Giải Bài ✅ (ĐÃ XÁC MINH)

Phân tích những điều kiện và tiền đề ra đời của chủ nghĩa xã hội – Tài liệu text

Phân tích những điều kiện và tiền đề ra đời của chủ nghĩa xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (119.84 KB, 18 trang )

Phân tích những điều kiện và tiền đề ra đời của chủ nghĩa xã hội
khoa học.
Khẳng định điều kiện và tiền đề ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
cũng tương tự như chủ nghĩa Mác. Cụ thể
* Điều kiện kinh tế – xã hội:
– Những năm 40 của thế kỷ XIX phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đã thống trị ở hầu hết các nước châu Âu, đặc biệt là Anh và Pháp.
Nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất với lực
lượng công nghiệp hùng mạnh. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Pháp đang
được hoàn thành
– Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra khối lượng của cải
vật chất khổng lồ. Nhờ vậy, tính hơn hẳn của chế độ tư bản chủ nghĩa so
với chế độ phong kiến được thể hiện một cách rõ rệt. “Giai cấp tư sản,
trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực
lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các
thế hệ trước kia gộp lại
– Giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị về chính trị trên thế giới
ngày càng thể hiện bản chất bóc lột
– Mâu thuẫn xã hội phát triển, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân và giai cấp tư sản → đấu tranh của công nhân nổ ra và thất bại.
Điều kiện đó là cơ sở để nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản kỹ hơn, khoa
học hơn, đồng thời điều kiện KT – XH cũng yêu cầu cần có một lý luận
cách mạng mới ra đời đẻ chỉ đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân
* Tiền đề về văn hoá – tư tưởng:
– Tiền đề về văn hóa (khoa học tự nhiên) có những phát minh vạch
thời đại
+ Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng
không thể thiếu được cho sự ra đời của triết học Mác. Những phát minh
lớn của khoa học tự nhiên làm bộc lộ rõ tính hạn chế, chật hẹp và những
bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới;

đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học để phát triển tư duy biện
chứng, hình thành phép biện chứng duy vật.
+ Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên thời đó, Ăngghen
nêu bật ý nghĩa của ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy
vật biện chứng: định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tế
bào và thuyết tiến hoá của Đắcuyn. Với những phát minh lớn của khoa
học tự nhiên đã làm cho quan niệm mới về tự nhiên đã được hoàn thành
trên những nét cơ bản
– Tiền đề về tư tưởng
+ Triết học cổ điển Đức: Hêghen, PhơBach
+ Kinh tế chính trị học cổ điển Anh: A – Smit và D.Ricácđô
+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng (tiền đề lý luận trực tiếp): H. Xanh
xi mông, S.Phuriê, R. Ôwen.
* Ý nghĩa phương pháp luận khi nghiên cứu về điều kiện và tiền
đề dẫn tới sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
– Chủ nghĩa xã hội khoa học được bắt nguồn từ những tiền đề trước
đó. Nó là một bộ phận trong dòng chảy của nhân loại về chủ nghĩa xã
hội.
– Chủ nghĩa xã hội khoa học vượt lên trên các trào lưu tư tưởng
trước đó về một xã hội tốt đẹp.
– Thấy được cống hiến lớn lao của Các Mác và Ăng ghen đối với
nhân loại. Bổ xung phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện
lịch sử mới.
Nêu rõ những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa và đặc
điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
* Dựa trên quan niệm của Mác, Ăng ghen và Lênin, dựa vào thực
tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội có thể nêu lên đặc trưng cơ bản của xã
hội xã hội chủ nghĩa như sau:
– Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công
nghiệp hiện đại Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã

hội mỗi chế độ xã hội đều dựa trên một cơ sở vật chất tương ứng: công
cụ thủ công, năng suất lao động kém là cơ sở vật chất của xã hội tiền tư
bản, đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư
bản.
– Xã hội xã hội chủ nghĩa đã xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa,
thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu. Tuy nhiên
đặc trưng của chủ nghĩa xã hội không phải là thủ tiêu chế độ tư hữu nói
chung mà là xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất là cơ sở nô dịch áp bức đa số nhân dân lao động, cơ
sở của tình trạng bất bình đẳng trong xã hội. Chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất là cơ sở của sự bình đẳng giữa các giai cấp trong chủ nghĩa xã
hội.
– Xã hội xã hội chủ nghĩa tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao
động mới. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quá trình tự giác của quần
chúng. Chính vì vậy các nhà kinh điển quan tâm và coi trọng tổ chức và
kỷ luật lao động để khắc phục tàn dư của sự tha hóa lao động, đồng thời
với quá trình đó xây dựng thái độ lao động mới phù hợp với địa vị làm
chủ.
– Xã hội xã hội chủ nghĩa thực hiện nguyên tắc này vì lực lượng sản
xuất chưa phát triển cáo, của cải vật chất chưa dồi dào. Theo nguyên tắc
này số lượng, chất lượng, hiệu quả của người lao động cung cấp cho xã
hội được tính bằng sản phẩm tiêu dùng ngang giá trị ngoài khoản đóng
góp cho xã hội và phúc lợi xã hội.
– Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân tính
nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, thực hiện quyền lực và lợi ích
của nhân dân Các nhà kinh điển đã đề cập tới nhà nước chuyên chính vô
sản khi chỉ rõ bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước đó nhằm bảo
vệ và phát triển dân chủ, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân.
– Xã hội xã hội chủ nghĩa là chế độ giải phóng con người thoát khỏi
áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện

cơ bản để con người phát triển toàn diện. Mục tiêu cao nhất của chủ
nghĩa xã hội là hướng tới giải phóng con người, Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ
những tai họa lớn của loài người để con người phát triển toàn diện.
* Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đặc điểm nổi bật là sự đan xen giữa hai xã hội cũ và mới trên tất cả
các lĩnh vực đời sống xã hội.
Cụ thể:
– Trên lĩnh vực chính trị : Nhà nước của giai cấp công nhân và
người lao động được hình thành ngày càng củng cố, thực sự là của dân –
do dân và vì dân, để thực hiện nhiệm vụ xây dựng CNXH
– Trên lĩnh vực kinh tế: Tồn tại nhiều thành phần kinh tế, kinh
tế Nhà nước và sở hữu Nhà nước là chủ đạo trong quá trình phát
triển kinh tế, nó giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển của xã hội
– Trên lĩnh vực xã hội: Cơ cấu giai cấp, tầng lớp đa dạng, phức
tạp.
– Trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng: Nhiều loại tư tưởng văn hóa,
bên cạnh hệ tư tưởng giai cấp CN là chủ nghĩa Mark – Lenin và nền
văn hóa mới XHCN vẫn còn tồn tại hệ tư tưởng củ, văn hóa lạc hậu
Những quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
– Lênin về điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân.
* Giai cấp công nhân là con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện
đại, được nền công nghiệp hiện đại rèn luyện, tổ chức lại thành một lực
lượng xã hội hùng mạnh.
Có thể thấy điều kiện này ở các khía cạnh sau:
– Là con đẻ của đại công nghiệp: Đại Công nghiệp làm phá hàng
loạt những người sản xuất nhỏ, bổ xung lực lượng cho giai cấp công
nhân. Đại công nghiệp phát triển sẽ thu hút lực lượng lao động xã hội
tạo thành tập đoàn người lao động công nghiệp. Yêu cầu sản xuất công
nghiệp rèn luyện người lao động ở tác phong, kỷ luật, trình độ…Giai cấp

công nhân gắn liền với sản xuất vật chất đi liền với nền công nghiệp hiện
đại kể cả trong nền kinh tế tri thức vì lao động sẽ làm xuất hiện công
nhân trí thức hòa trộn trong một người lao động. Kể cả “Hậu công
nghiệp” vẫn không bỏ qua trình độ công nghiệp, vẫn gắn với công nhân.
– Giai cấp công nhân bị áp bức bóc lột nặng nề, là giai cấp đối
kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Không nắm tư liệu sản xuất chủ yếu,
giai cấp công nhân mất quyền làm chủ quá trình tổ chức lao động xã hội,
phân phối sản phẩm xã hội. Giai cấp công nhân bị bần cùng hóa so với
giai cấp tư sản về khoảng cách thu nhập, hưởng thụ vật chất. Vì không
có tư hữu nên giai cấp công nhân có khả năng xây dựng một xã hội hoàn
toàn mới chứ không cải biến chút ít như giai cấp tư sản đã làm.
– Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa giai cấp công nhân
là lực lượng sản xuất, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến. Do
vậy đây là bộ phận đông nhất, cách mạng nhất và quyết định nhất.
* Địa vị kinh tế – xã hội khách quan còn tạo ra khả năng cho giai
cấp công nhân trở thành giai cấp triệt để cách mạng nhất có khả năng
đoàn kết các giai cấp khác, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư
sản.
– Giai cấp công nhân có khả năng đoàn kết toàn bộ giai cấp vì: Có
lợi ích cơ bản thống nhất với nhau, cùng tồn tại trong điều kiện, môi
trường như nhau. Họ cũng bị toàn bộ giai cấp tư sản trong nước và quốc
tế.
– Giai cấp công nhân có lý luận Cách mạng và khoa học dẫn đường
đó là chủ nghĩa Mác – Lênin. Điều đó làm cho giai cấp giác ngộ hơn,
tinh thần Cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật cao hơn các giai cấp tầng
lớp khác trong xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng giúp họ khả năng
hoạt động đấu tranh để đạt được mục tiêu.
– Giai cấp công nhân có khả năng đoàn kết các giai cấp khác (chủ
yếu là các giai cấp tầng lớp cùng bị thống trị với chủ nghĩa tư bản) vì họ
có lợi ích kinh tế cơ bản phù hợp với nhau. Sự nghiệp giải phóng giai

cấp công nhân phù hợp với nhu cầu nguyện vọng của các giai cấp khác.
Tóm lại: Do địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân tạo nên
cho giai cấp công nhân trở thành một giai cấp có địa vị hơn hẳn các giai
cấp, tầng lớp khác, làm cho nó trở thành giai cấp tiên tiến trong chủ
nghĩa tư bản. Những đặc điểm đó tạo thành bản chất Cách mạng của giai
cấp công nhân, là cơ sở để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch
sử của mình.
* Cần phê phán các quan điểm sau:
– Quan điểm giai cấp công nhân đã “teo đi”, tan biến vào các giai
cấp tầng lớp khác do vậy sứ mệnh lịch sử cũng mất đi. Quan điểm trên
sai vì: số lượng của giai cấp có thay đổi nhưng chất lượng không đổi.
Giai cấp công nhân có tài sản nhưng mâu thuẫn với giai cấp tư sản
không mất đi mà trở nên sâu sắc. Giai cấp công nhân vẫn đại diện cho
lực lượng sản xuất tiên tiến. Giai cấp công nhân có một bộ phận được
trung lưu hóa có cổ phần nhưng vẫn là giai cấp cách mạng. Chủ nghĩa
Mác không quan niệm một giai cấp lãnh đạo cách mạng là giai cấp
nghèo khổ nhất.
– Quan điểm cho rằng: Quan niệm của Mác về sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân trước kia là đúng nhưng sang nền ” kinh tế tri thức”
không còn phù hợp. Do đó sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
chuyển sang cho tầng lớp trí thức.
Trí thức có vai trò quan trọng trong mọi thời đại, nhưng trí thức
không thể lãnh đạo được cách mạng, không còn sứ mệnh lịch sử như
giai cấp công nhân vì trí thức không bao giờ là lực lượng xã hội thuần
nhất, họ không phải là giai cấp. Không liên hệ với bất kỳ hình thức sở
hữu nào, cũng không đại diện cho bất kỳ một phương thức sản xuất nào.
Họ không đối lập về kinh tế trước bất kỳ gia cấp – tầng lớp nào. Trí thức
không có lợi ích đối kháng trực tiếp với tư sản, họ không có hệ tư tưởng
riêng. Phương thức lao động là cá nhân ít liên kết.
– Có quan điểm cho rằng: nông dân có sứ mệnh lịch sử như công

nhân. Không vì: Họ là người lao động nhưng có tính tư hữu, không có
hệ tư tưởng độc lập.
Phân tích những điều kiện giai cấp công nhân Việt Nam làm tròn sứ
mệnh lịch sử của mình đối với Cách mạng Việt Nam.
* Vài nét khái quát về giai cấp công nhân Việt Nam.
– Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn hơn giai cấp công nhân
quốc tế là sản phẩm của công nghiệp chế biến và khai thác.
– Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp(1897 –
1914). Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nên Giai
cấp công nhân Việt Nam phát triển chậm chạp. Mặc dù số lượng ít (1%
dân số trước 1930) Giai cấp công nhân nhanh chóng vươn lên lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, được dân tộc thừa nhận suốt 76 năm lãnh đạo cách
mạng Việt Nam.
* Đặc điểm cơ bản (điều kiện thực hiện vai trò lãnh đạo cách mạng):
– Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có
truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm.
– Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và từng bước trưởng thành
trong không khí sục sôi của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc
khởi nghĩa chống thực dân Pháp.
– Ra đời, trưởng thành vào lúc phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế phát triển mạnh, cách mạng tháng Mười Nga thành công, ảnh
hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở các nước khác, trong đó có
cách mạng Việt Nam. Chính lúc đó nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc trên
con đường tìm đến với chủ nghĩa Mác Lênin.
– Giai cấp công nhân Việt Nam, mà tuyệt đại bộ phận xuất thân từ
nông dân và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên
với đông đảo nhân dân lao động bị áp bức, cũng là điều kiện thuận lợi để
giai cấp công nhân xây dựng khối liên minh công nông vững chắc và
khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi, đảm bảo cho sự lãnh đạo giai cấp
công nhân Việt Nam.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam chỉ rõ: giai cấp công nhân ra đời chưa
bao lâu, ngay cả khi chưa có Đảng ra đời đã tổ chức nhiều cuộc đấu
tranh tự phát chống thực dân Pháp, đó là phong trào từ 1922 đến 1929.
Khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo. Vai trò của Giai cấp công
nhân Việt Nam đã thể hiện trên thực tế: lãnh đạo nhân dân Việt Nam đạt
được những thành tựu to lớn trong thế kỷ XX.
* Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
Trước hết phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên
phong của mình giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính nhân
dân. Trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa: giai cấp công nhân
từng bước lãnh đạo nhân dân xây dựng, giải phóng nhân dân lao động
khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công.
Giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam thông
qua Đảng Cộng sản, do vậy: nói đến Giai cấp công nhân lãnh đạo là nói
đến toàn bộ giai cấp chứ không phải một nhóm người, từng người.
Tuy nhiên để lãnh đạo, giai cấp công nhân phải có một lực lượng, tổ
chức tiêu biểu cho quyền lợi giai cấp đó là Đảng Cộng sản. Đảng viên
dù xuất thân từ thành phần xã hội nào cũng phải đứng trên lập trường
giai cấp công nhân. Thể hiện: Phải thực hiện lý tưởng của giai cấp công
nhân, lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng. Họ đấu tranh vì lợi ích giai cấp, lợi ích nhân dân và cả dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, hiện nay đang lãnh đạo cách
mạng xã hội chủ nghĩa – nhiệm vụ khó khăn và phức tạp. Trong bối cảnh
hiện nay giai cấp công nhân Việt Nam phải khắc phục những khuyết
điểm thường xuyên tự đổi mới nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện đáp
ứng với yêu càu nhiệm vụ mới.
Mục tiêu và động lực của Cách mạng xã hội chủ nghĩa.
* Mục tiêu của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa
Khi tiến hành Cách mạng tư sản, giai cấp tư sản đã nêu tư tưởng tự

do – bình đẳng – bác ái. Khi Cách mạng thành công, tư tưởng đó không
được giai cấp tư sản thực hiện đầy đủ. Kết quả mà cuộc Cách mạng tư
sản đem lại là: tình trang con người (người lao động bị áp bức, bóc lột
nặng nề hơn; Phân hóa giai cấp sâu sắc dẫn tới xung đột giai cấp, dân tộc
phát triển; quan hệ gắn bó giữa người với người bị biến dạng. Tôn giáo
bị lợi dụng vì mục đích chính trị…
Mác – Ăng-ghen đã khắc phục tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không
tưởng, khẳng định mục tiêu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa là: Giải
phóng giai cấp bị áp bức bóc lột, giải phóng các dân tộc bị nô dịch, giải
phóng xã hội khỏi sự trì trệ để tiếp tục phát triển trên con đường văn
minh, tiến bộ. Thực chất xã hội chủ nghĩa mà Mác – Ăng-ghen ấp ủ là
một thể liên hiệp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện
tự do của tất cả mọi người.
Mục tiêu đó được chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: giải phóng giai cấp khỏi áp bức bóc lột, giành
chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Giai đoạn thứ hai: Mục tiêu là xóa bỏ chế độ người bóc lột người,
phát triển sản xuất nhằm đưa lại đời sống ấm no cho toàn dân.
* Động lực của Cách mạng xã hội chủ nghĩa
Cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng người lao động và do
chính nhân dân lao động tiến hành, nhưng tùy thuộc vào điều kiện kinh
tế – xã hội quy định mà vị trí của họ có khác nhau.
Giai cấp công nhân: Là động lực và là lực lượng lãnh đạo Cách
mạng do giai cấp này: đại biểu cho phương thức sản xuất mới, có hệ tư
tưởng độc lập là chủ nghĩa Mác – Lênin, đại biểu cho lợi ích người lao
động. Thực chất cách mạng xã hội chủ nghĩa là tổ chức một xã hội mới
của những người lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
thông qua chính Đảng – Đội tiên phong của giai cấp.
Giai cấp nông dân: Sự tham gia của giai cấp nông dân vào tiến
trình Cách mạng có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện hóa vai trò

lãnh đạo của giai cấp công nhân. Do: Trong Cách mạng xã hội chủ nghĩa
nông dân được đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng giải phóng. Xã hội mới
được xây dựng phù hợp với lợi ích của nhân dân, họ được cải thiện đời
sống vật chất tinh thần. Mặt khác họ được ảnh hưởng tích cực từ tư
tưởng và hành động cách mạng của giai cấp công nhân nên họ càng tin
và theo cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tầng lớp trí thức: Tầng lớp này không là lực lượng lãnh đạo cách
mạng, nhưng họ đại diện cho trí tuệ của đất nước. Họ có nhiều khả năng
tiếp cận thành tựu khoa học hiện đại. Đây là lực lượng không thể thiếu
được của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì: Nếu giành chính quyền từ tay
giai cấp tư sản mà các vị trí chủ chốt đều do người có học “điều hành, do
vậy thành công hay thất bại của cách mạng phụ thuộc rất lớn vào việc
giai cấp công nhân có thu hút được trí thức theo Cách mạng hay không?
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội vai trò của đội ngũ trí thức ngày càng
cần thiết nhất là trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ.
Tóm lại, Cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nhu cầu phát
triển xã hội nên đã kết hợp được mọi lực lượng tạo thành động lực của
Cách mạng.
Phân tích những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay.
Thứ nhất, Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt.
Do các mâu thuẫn cơ bản vẫn tồn tại và phát triển (đã phân tích). Đấu
tranh giai cấp và dân tộc diễn ra dưới nhiều hình thức mới.
Những vấn đề toàn cầu được đặt ra một cách cụ thể nhưng giải
quyết vấn đề toàn cầu lại do Nhà nước thực hiện, mỗi Nhà nước lại do 1
giai cấp đứng đầu. Giải quyết vấn đề nhân loại bao giờ cùng theo lăng
kính giai cấp. Do đó thế giới đang bị phân chia theo các quan điểm của
các giai cấp khác nhau.
Đấu tranh giai cấp thường gắn với đấu tranh dân tộc, vấn đề dân tộc,
đoàn kết dân tộc là yếu tố cơ bản chi phối các lực lượng xã hội.
Thứ hai, Cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão,

tạo ra nhiều sự thay đổi trong các lĩnh vực sâu sắc to lớn trên thế giới
Lực lượng sản xuất của nhân loại đã phát triển nhanh chóng dưới sự
tác động của khoa học công nghệ. Nếu so năm 1990 với 1740 khi nhân
loại bước vào Cách mạng công nghiệp thì lực lượng sản xuất đã tăng
2000 lần. Cứ 10 – 15 năm của cải nhân loại tăng gấp đôi…
Cách mạng khoa học công nghệ tạo sự đột biến ở tất cả các lĩnh vực
từ khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, vũ trụ, công nghệ vật liệu…Chỉ
rõ lực lượng sản xuất mang tính quốc tế cao, xuất hiện xu thế toàn cầu
cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước.
Thứ ba, những vấn đề toàn cầu đòi hỏi sự hợp tác giải quyết của
các quốc gia.
Khoảng cách phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, gia tăng dân số ở
các nước chậm phát triển. Tình trạng khan hiếm tài nguyên, môi trường
sinh thái bị hủy hoại, khí hậu bất thường, các dịch bệnh lan rộng, tội
phạm quốc tế có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi có sự hợp tác của các
quốc gia không phân biệt chế độ XH
Cả loài người đang đứng trước những vấn đề có tính toàn cầu mà
giải quyết được nó phải có sự hợp tác giữa tất cả các nước không phân
biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển…Đó là các vấn đề: Môi trường
sinh thái bị tàn phá nặng nề, bùng nổ dân số, nghèo đói, bệnh tật…Yêu
cầu phải có sự liên kết để giải quyết.
Thứ tư, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang phát triển năng
động với tốc độ cao đồng thời cũng tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn
định.
Là khu vực chiếm 1/2 diện tích toàn cầu, 75% dân số thế giới, 8/10
nước có dân số trên 100 triệu dân…
Là khu vực phát triển năng động nhất về kinh tế. Tuy nhiên tiềm ẩn
nhân tố gây mất ổn định do chiến lược thôn tính của những nước lớn,
chiếm nhiều nước nghèo, nợ nần lớn, dân số phát triển nhanh, công nghệ
lạc hậu, quản lý kém…

Tóm lại: Thế giới đang đan xen nhiều yếu tố phức tạp. Để hội nhập
và phát triển chúng ta phải thấy hết các xu hướng trên cơ sở đó đề ra
đường lối chính sách phù hợp.
Phân tích những vấn đề có tính nguyên tắc định hướng xã hội chủ
nghĩa trong đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phương hướng cải
cách nhà nước ta hiện nay.?
* Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
Thực chất là xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân.
Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm:đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hệ thống chính trị ở Việt
Nam đã tạo nhiều thành tựu quan trọng. Xuất phát từ yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới, từ những hạn chế của hệ thống chính trị trong điều kiện
hiện nay phải đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.
* Trong đổi mới phải đảm bảo nguyên tắc:
Một là, Đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động, tổ chức cán bộ và các mối quan hệ giữa các tổ chức
chính trị hợp pháp. Không thay đổi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội.
Hai là, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa thì những nguyên tắc, chức năng, nhiệm vụ của chuyên chính vô
sản vẫn được thực hiện ngày càng tốt hơn.
Ba là, Đảng, Nhà nước và nhân dân không chấp nhận ” đa nguyên
chính trị, đa Đảng đối lập”.
Bốn là, Đổi mới toàn diện song có trọng điểm: trên cơ sở ổn định,
phát triển kinh tế và đời sống nhân dân từng bước đổi mới hệ thống
chính trị đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của mọi lĩnh vực xã hội.
* Phương hướng cải cách nhà nước ta hiện nay

Xuất phát từ vị trí vai trò của nhà nước: là trụ cột, công cụ chủ yếu
vững mạnh để thực hiện quyền lực của nhân dân. Đại hội Đảng lần thứ
IX chỉ rõ phương hướng chung là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Cải cách Nhà nước tập trung vào các vấn đề:
+ Với Quốc hội:
– Cơ quan quyền lực cao nhất của nước ta. Khẳng định quyền lực
nhà nước là thống nhất đó là quyền lực của nhân dân.
– Quốc hội cần quan tâm đến việc lập pháp, lập quy. Cụ thể xây
dựng chương trình lập pháp, quyền trình dự án luật của các đoàn thể
nhân dân. Nâng cao kiến thức lập pháp của đại biểu quốc hội, nâng cao
trình độ thẩm định luật. Tôn trọng ý kiến của các nhà khoa học, của nhân
dân, của các chuyên gia.
+ Với Chính phủ và hệ thống cơ quan hành pháp… tập trung vào 3
vấn đề:
– Thứ nhất, cải cách hệ thể chế hành chính: Đó là cải cách thủ tục
hành chính, hoàn thiện thể chế để đảm bảo quản lý bằng pháp luật, giảm
cơ chế xin – cho.
– Thứ hai, cải cách bộ máy: chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, bộ máy,
tinh giảm biên chế. Định rõ thứ bậc, quan hệ thứ bậc trong quan hệ hành
chính. Xác định vai trò, vị trí từng cấp chính quyền.
– Thứ ba, cải cách công tác cán bộ công chức: Ban hành quy chế về
chế độ công vụ, công chức. Quy định rõ nghĩa vụ, quyền lợi, thẩm quyền
và tổng luật hành chính. Quy định rõ nghĩa vụ, quyền lợi, thẩm quyền và
kỷ luật hành chính. Quy định rõ chế độ đào tạo, tuyển dụng và sàng lọc
công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực.
Làm tốt những công việc trên sẽ không ngừng nâng cao ý thức dân
chủ, ý thức trách nhiệm công dân, làm cho mọi người trong xã hội, mọi
tổ chức trong xã hội phát huy dân chủ ở mức độ cao nhất, chống lại các
hiện tượng vi phạm dân chủ.

Phân tích nội dung cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Lênin viết tác phẩm về “quyền dân tộc tự quyết”. Tác nhân được coi
là cương lĩnh dân tộc của Đảng cộng sản gồm 3 vấn đề.
* Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Vị trí: Đây là quyền thiêng liêng của mọi dân tộc. Nó cũng là một
trong những nội dung phấn đấu của Đảng cộng sản, của giai cấp công
nhân. Để thực hiện được mục tiêu này phải gắn liền với cuộc đấu tranh
giai cấp để thủ tiêu bốc lột, áp bức giai cấp.
Nội dung: Các dân tộc có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trên tất
cả các lĩnh vực, chỉ rõ các dân tộc bình đẳng bất kể dân tộc có số lượng
nhiều hay ít, trình độ phát triển cao hay thấp, đất đai rộng hay hẹp, các
dân tộc bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội. Khắc phục tình trạng chênh lệch trong sự phát triển giữa các dân
tộc. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thực hiện trên phạm vi cả
nước và quốc tế. Đây là cơ sở để hực hiện các nội dung khác vì các dân
tộc có quyền bình đẳng mới có quyền quyết định vận mệnh của mình và
hợp tác quốc tế.
* Các dân tộc có quyền tự quyết
Vị trí : Đây là quyền bất khả xâm phạm của các dân tộc vì: quyền tự
quyết trước hết là tự quyết về chính trị, giành độc lập và chính trị không
lệ thuộc vào quốc gia dân tộc khác. Với các nước dân tộc thuộc địa đó là
giải phóng khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân
tộc, đưa đất nước đi theo con đường tiến bộ. Quyền tự quyết còn là
quyền tự nguyện tham gia liên hiệp dân tộc.
Thực chất: Quyền tự quyết của các dân tộc là quyền làm chủ của
dân tộc đối với đất nước mình, không một dân tộc nào có quyền can
thiệp.
Ý nghĩa: Nội dung trên thức tỉnh các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc
đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập đưa đất nước phát
triển theo quy luật khách quan của lịch sử.

* Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Vị trí: Đây là nội dung cơ bản xuyên suốt, mang tính nguyên tắc
trong cương lĩnh của Lênin vì: nó phản ánh sự thống nhất giữa phong
trào giải phóng dân tộc với phong trào công nhân. Nó đảm bảo cho
phong trào giải phóng dân tộc có đủ sức mạnh để đấu tranh giành thắng
lợi.
Nội dung cơ bản là sự kết hợp chặt chẽ phong trào yêu nước chân
chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Giai cấp công nhân phải giải quyết
phù hợp lợi ích dân tộc. Khi giải quyết vấn đề dân tộc phải đứng trên lập
trường của giai cấp công nhân. Nội dung trên phù hợp với thời đại, trở
thành sức mạnh của thời đại. Ngày nay giai cấp công nhân ở mỗi quốc
gia dân tộc phải đoàn kết với nhân dân thế giới đấu tranh vì mục tiêu của
thời đại.
Đây là mục tiêu phấn đấu là biện pháp hữu hiệu để các Đảng Cộng
sản tổ chức lực lượng trong đấu tranh để giải phóng giai cấp, giải phóng
dân tộc, giải quyết đúng đắn quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các
dân tộc.
Tóm lại: Cương lĩnh dân tộc của Đảng Cộng sản là một bộ phận
của cương lĩnh Cách mạng của giai cấp công nhân là cơ sở lý luận của
đường lối chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội
chủ nghĩa
Phân tích chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Khái niệm dân tộc: Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu
dài của lịch sử.
Khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa.
– Nghĩa thứ nhất, dân tộc chỉ cộng đồng người có liên hệ chặt chẽ
và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có
những đặc thù,
– Nghĩa thứ hai, dân tộc là một cộng đồng người ổn định, làm
thành nhân dân của một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống

nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất
Căn cứ lý luận và thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam về
lý luận: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh căn cứ vào cương lĩnh dân tộc
của Lênin, vào thực tiễn đấu tranh Cách mạng đã đề ra và giải quyết vấn
đề dân tộc ở các giai đoạn Cách mạng.
Cương lĩnh chính trị tháng 10/1930 xác định vấn đề dân tộc là một
bộ phận của Cách mạng Việt Nam (Cách mạng vô sản), độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn 1930 – 1945 tiếp tục giương cao
khẩu hiệu đoàn kết dân tộc rộng rãi để giành thắng lợi cho Cách mạng.
Trong chống Mỹ (1954 – 1975) đoàn kết dân tộc để thực hiện 2 nhiệm
vụ chiến lược.
Hồ Chí Minh có tư tưởng về vấn đề dân tộc rất độc đáo. Người
khẳng định: nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một đồng bào
các dân tộc đều là anh em một nhà. Đoàn kết dân tộc là cốt lõi của chủ
nghĩa yêu nước; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đoàn kết
nhân dân, dân tộc Việt Nam với nhân dân và các dân tộc khác trên thế
giới.
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội các đại hội IV, V, VI, VII, VIII
đều khẳng định vai trò của đoàn kết dân tộc, chính sách dân tộc.
Về thực tiễn: Đảng ta dựa vào việc tổng kết kinh nghiệm của việc
thực hiện chính sách dân tộc.
Đại hội IV của Đảng chỉ rõ: vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc
luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp Cách mạng chỉ rõ chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay tập trung vào những nhiệm
vụ cụ thể sau:
– Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển kinh tế hàng
hóa, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân các dân tộc, thực
hiện xóa đói, giảm nghèo.
– Giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và truyền
thống tốt đẹp của các dân tộc.

– Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín
ngưỡng của các dân tộc
– Thực hiện công bằng giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền
xuôi, đặc biệt quan tâm tới các vùng khó khăn, vùng trước đây là căn cứ
kháng chiến.
– Tăng cường bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
– Tiếp tục thực hiện truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc. Động
viên vai trò của những người tiêu biểu có uy tín trong dân tộc và địa
phương. Chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi cực đoan, khắc
phục tư tưởng tự ty, mặc cảm dân tộc.
– Thực hiện đảm bảo về mặt pháp luật quyền bình đẳng giữa các
dân tộc về ngôn ngữ
Rõ ràng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính
toàn diện, tổng hợp tác động tới tất cả các mặt của đời sống xã hội, tác
động tới tất cả các dân tộc nhằm đạt mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội.
Nguyên nhân nào dẫn đến tôn giáo còn tồn tại trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Dưới xã hội xã hội chủ nghĩa tôn giáo vẫn tồn tại vì các nguyên
nhân sau:
– Nguyên nhân nhận thức:
Dưới chủ nghĩa xã hội trình độ nhận thức của nhân dân chưa cao,
nhiều hiện tượng tự nhiên xã hội khoa học chưa giải thích nổi. Do đó khi
hoạn nạn xảy ra những người vốn có tín ngưỡng tôn giáo bèn cầu xin sự
che chở của lực lượng siêu nhiên nên tôn giáo có cơ sở tồn tại.
– Nguyên nhân tâm lý:
Tôn giáo tồn tại lâu đời trong lịch sử, ăn sâu vào tiềm thức của nhiều
người dân, nó trở thành một kiểu sinh hoạt tinh thần không thể thiếu được
trong cuộc sống. Nó là một hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất.
– Nguyên nhân văn hóa:

Đa số tôn giáo gắn với sinh hoạt văn hóa của nhân dân, do đó việc
bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải đi liền với bảo tồn các
giá trị văn hóa ở mức độ nhất định.
– Nguyên nhân chính trị xã hội:
Trong giáo lý và nguyên tắc tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với chủ
nghĩa xã hội, với đường lối, chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa do
đó tôn giáo được khuyến khích phát huy giá trị đạo đức, văn hóa. Đó là cơ
sở để nó tồn tại. Mặt khác, các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội lợi
dung tôn giáo để chống phá cách mạng. Tôn giáo trở thành công cụ,
phương tiện, lực lượng để chống phá chủ nghĩa xã hội.
– Nguyên nhân về kinh tế:
Trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu vẫn còn sở hữu riêng
lại thực hiện cơ chế thị trường trong kinh tế nên xuất hiện sự cạnh tranh
khốc liệt dẫn tới sự thành công trong sản xuất kinh doanh của nhiều người
nhưng cũng không ít người làm ăn thua lỗ. Cả hai lớp người này đều xuất
hiện tâm lý thụ động, cầu mong vào lực lượng siêu nhiên, họ đến với tôn
giáo. Mặt khác đời sống kinh tế của nhân dân chưa cao nên họ lựa chọn
giải pháp đến với tôn giáo.
* Ngoài các nguyên nhân trên, để tồn tại tôn giáo còn có các xu hướng
cách tân sau :
Xu hướng thứ nhất: tính cộng đồng giảm dần. Giáo dân cho rằng
con người có khả năng trực tiếp quan hệ với chúa, nên không cần thiết
phải tập trung ở nhà thờ…
Xu hướng thứ hai: Thế tục hóa: tính chất hoang đường giảm đi tôn
giáo có sự cải biên cho phù hợp với thời đại. Tôn giáo cũng quan tâm đến
các vấn đề toàn cầu như đói nghèo, bệnh tật, giáo dục.
Xu hướng dựng nên ngọn cờ tôn giáo mới : Cho rằng chỉ có tôn
giáo mới đem lại lợi ích cho nhân dân thế giới còn các lực lượng xã hội
khác thì không. Thực chất đó là sự tranh giành ảnh hưởng, bài xích hạ uy
tín của nhau.

Kết luận: Tôn giáo còn tồn tại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
đồng thời cung ứng cơ sở tri thức khoa học để tăng trưởng tư duy biệnchứng, hình thành phép biện chứng duy vật. + Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên thời đó, Ăngghennêu bật ý nghĩa của ba ý tưởng lớn so với sự hình thành triết học duyvật biện chứng : định luật bảo toàn và chuyển hoá nguồn năng lượng, thuyết tếbào và thuyết tiến hoá của Đắcuyn. Với những ý tưởng lớn của khoahọc tự nhiên đã làm cho ý niệm mới về tự nhiên đã được hoàn thànhtrên những nét cơ bản – Tiền đề về tư tưởng + Triết học cổ xưa Đức : Hêghen, PhơBach + Kinh tế chính trị học cổ xưa Anh : A – Smit và D.Ricácđô + Chủ nghĩa xã hội ngoạn mục ( tiền đề lý luận trực tiếp ) : H. Xanhxi mông, S.Phuriê, R. Ôwen. * Ý nghĩa phương pháp luận khi điều tra và nghiên cứu về điều kiện và tiềnđề dẫn tới sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học. – Chủ nghĩa xã hội khoa học được bắt nguồn từ những tiền đề trướcđó. Nó là một bộ phận trong dòng chảy của quả đât về chủ nghĩa xãhội. – Chủ nghĩa xã hội khoa học vượt lên trên những trào lưu tư tưởngtrước đó về một xã hội tốt đẹp. – Thấy được góp sức lớn lao của Các Mác và Ăng ghen đối vớinhân loại. Bổ xung tăng trưởng chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiệnlịch sử mới. Nêu rõ những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa và đặcđiểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. * Dựa trên ý niệm của Mác, Ăng ghen và Lênin, dựa vào thựctiễn thiết kế xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn toàn có thể nêu lên đặc trưng cơ bản của xãhội xã hội chủ nghĩa như sau : – Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất côngnghiệp văn minh Theo quan điểm của những nhà tầm cỡ của chủ nghĩa xãhội mỗi chính sách xã hội đều dựa trên một cơ sở vật chất tương ứng : côngcụ bằng tay thủ công, hiệu suất lao động kém là cơ sở vật chất của xã hội tiền tưbản, đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tưbản. – Xã hội xã hội chủ nghĩa đã xóa bỏ chính sách tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chính sách công hữu về những tư liệu sản xuất hầu hết. Tuy nhiênđặc trưng của chủ nghĩa xã hội không phải là thủ tiêu chính sách tư hữu nóichung mà là xóa bỏ chính sách tư hữu tư bản chủ nghĩa. Chế độ công hữuvề tư liệu sản xuất là cơ sở nô dịch áp bức đa phần nhân dân lao động, cơsở của thực trạng bất bình đẳng trong xã hội. Chế độ công hữu về tư liệusản xuất là cơ sở của sự bình đẳng giữa những giai cấp trong chủ nghĩa xãhội. – Xã hội xã hội chủ nghĩa tạo ra cách tổ chức triển khai lao động và kỷ luật laođộng mới. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một quy trình tự giác của quầnchúng. Chính vì thế những nhà tầm cỡ chăm sóc và coi trọng tổ chức triển khai vàkỷ luật lao động để khắc phục tàn dư của sự tha hóa lao động, đồng thờivới quy trình đó thiết kế xây dựng thái độ lao động mới tương thích với vị thế làmchủ. – Xã hội xã hội chủ nghĩa thực thi nguyên tắc này vì lực lượng sảnxuất chưa tăng trưởng cáo, của cải vật chất chưa dồi dào. Theo nguyên tắcnày số lượng, chất lượng, hiệu suất cao của người lao động cung ứng cho xãhội được tính bằng mẫu sản phẩm tiêu dùng ngang giá trị ngoài khoản đónggóp cho xã hội và phúc lợi xã hội. – Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang thực chất giai cấp công nhân tínhnhân dân thoáng rộng và tính dân tộc bản địa thâm thúy, triển khai quyền lực tối cao và lợi íchcủa nhân dân Các nhà tầm cỡ đã đề cập tới nhà nước chuyên chính vôsản khi chỉ rõ thực chất, công dụng, trách nhiệm của nhà nước đó nhằm mục đích bảovệ và tăng trưởng dân chủ, bảo vệ quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. – Xã hội xã hội chủ nghĩa là chính sách giải phóng con người thoát khỏiáp bức bóc lột, triển khai công minh, văn minh xã hội, tạo những điều kiệncơ bản để con người tăng trưởng tổng lực. Mục tiêu cao nhất của chủnghĩa xã hội là hướng tới giải phóng con người, Chủ nghĩa xã hội xóa bỏnhững tai ương lớn của loài người để con người tăng trưởng tổng lực. * Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc điểm điển hình nổi bật là sự xen kẽ giữa hai xã hội cũ và mới trên tất cảcác nghành đời sống xã hội. Cụ thể : – Trên nghành nghề dịch vụ chính trị : Nhà nước của giai cấp công nhân vàngười lao động được hình thành ngày càng củng cố, thực sự là của dân – do dân và vì dân, để thực thi trách nhiệm thiết kế xây dựng CNXH – Trên nghành nghề dịch vụ kinh tế tài chính : Tồn tại nhiều thành phần kinh tế tài chính, kinhtế Nhà nước và sở hữu Nhà nước là chủ yếu trong quy trình pháttriển kinh tế tài chính, nó giữ vai trò chủ yếu trong sự tăng trưởng của xã hội – Trên nghành nghề dịch vụ xã hội : Cơ cấu giai cấp, những tầng lớp phong phú, phứctạp. – Trên nghành văn hoá, tư tưởng : Nhiều loại tư tưởng văn hóa truyền thống, bên cạnh hệ tư tưởng giai cấp CN là chủ nghĩa Mark – Lenin và nềnvăn hóa mới XHCN vẫn còn sống sót hệ tư tưởng củ, văn hóa truyền thống lạc hậuNhững quan điểm cơ bản của những nhà tầm cỡ của chủ nghĩa Mác – Lênin về điều kiện khách quan pháp luật thiên chức lịch sử dân tộc của giaicấp công nhân. * Giai cấp công nhân là con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiệnđại, được nền công nghiệp tân tiến rèn luyện, tổ chức triển khai lại thành một lựclượng xã hội hùng mạnh. Có thể thấy điều kiện này ở những góc nhìn sau : – Là con đẻ của đại công nghiệp : Đại Công nghiệp làm phá hàngloạt những người sản xuất nhỏ, bổ xung lực lượng cho giai cấp côngnhân. Đại công nghiệp tăng trưởng sẽ lôi cuốn lực lượng lao động xã hộitạo thành tập đoàn lớn người lao động công nghiệp. Yêu cầu sản xuất côngnghiệp rèn luyện người lao động ở tác phong, kỷ luật, trình độ … Giai cấpcông nhân gắn liền với sản xuất vật chất đi liền với nền công nghiệp hiệnđại kể cả trong nền kinh tế tri thức vì lao động sẽ làm Open côngnhân tri thức hòa trộn trong một người lao động. Kể cả ” Hậu côngnghiệp ” vẫn không bỏ lỡ trình độ công nghiệp, vẫn gắn với công nhân. – Giai cấp công nhân bị áp bức bóc lột nặng nề, là giai cấp đốikháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Không nắm tư liệu sản xuất hầu hết, giai cấp công nhân mất quyền làm chủ quy trình tổ chức triển khai lao động xã hội, phân phối loại sản phẩm xã hội. Giai cấp công nhân bị bần cùng hóa so vớigiai cấp tư sản về khoảng cách thu nhập, tận hưởng vật chất. Vì khôngcó tư hữu nên giai cấp công nhân có năng lực kiến thiết xây dựng một xã hội hoàntoàn mới chứ không cải biến chút ít như giai cấp tư sản đã làm. – Trong phương pháp sản xuất tư bản chủ nghĩa giai cấp công nhânlà lực lượng sản xuất, đại diện thay mặt cho phương pháp sản xuất tiên tiến và phát triển. Dovậy đây là bộ phận đông nhất, cách mạng nhất và quyết định hành động nhất. * Địa vị kinh tế tài chính – xã hội khách quan còn tạo ra năng lực cho giaicấp công nhân trở thành giai cấp triệt để cách mạng nhất có khả năngđoàn kết những giai cấp khác, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tưsản. – Giai cấp công nhân có năng lực đoàn kết hàng loạt giai cấp vì : Cólợi ích cơ bản thống nhất với nhau, cùng sống sót trong điều kiện, môitrường như nhau. Họ cũng bị hàng loạt giai cấp tư sản trong nước và quốctế. – Giai cấp công nhân có lý luận Cách mạng và khoa học dẫn đườngđó là chủ nghĩa Mác – Lênin. Điều đó làm cho giai cấp giác ngộ hơn, ý thức Cách mạng, ý thức tổ chức triển khai kỷ luật cao hơn những giai cấp tầnglớp khác trong xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng giúp họ khả nănghoạt động đấu tranh để đạt được tiềm năng. – Giai cấp công nhân có năng lực đoàn kết những giai cấp khác ( chủyếu là những giai cấp những tầng lớp cùng bị thống trị với chủ nghĩa tư bản ) vì họcó quyền lợi kinh tế tài chính cơ bản tương thích với nhau. Sự nghiệp giải phóng giaicấp công nhân tương thích với nhu yếu nguyện vọng của những giai cấp khác. Tóm lại : Do vị thế kinh tế tài chính – xã hội của giai cấp công nhân tạo nêncho giai cấp công nhân trở thành một giai cấp có vị thế hơn hẳn những giaicấp, những tầng lớp khác, làm cho nó trở thành giai cấp tiên tiến và phát triển trong chủnghĩa tư bản. Những đặc thù đó tạo thành thực chất Cách mạng của giaicấp công nhân, là cơ sở để giai cấp công nhân triển khai xong thiên chức lịchsử của mình. * Cần phê phán những quan điểm sau : – Quan điểm giai cấp công nhân đã ” teo đi “, tan biến vào những giaicấp những tầng lớp khác do vậy thiên chức lịch sử vẻ vang cũng mất đi. Quan điểm trênsai vì : số lượng của giai cấp có đổi khác nhưng chất lượng không đổi. Giai cấp công nhân có gia tài nhưng xích míc với giai cấp tư sảnkhông mất đi mà trở nên thâm thúy. Giai cấp công nhân vẫn đại diện thay mặt cholực lượng sản xuất tiên tiến và phát triển. Giai cấp công nhân có một bộ phận đượctrung lưu hóa có CP nhưng vẫn là giai cấp cách mạng. Chủ nghĩaMác không ý niệm một giai cấp chỉ huy cách mạng là giai cấpnghèo khổ nhất. – Quan điểm cho rằng : Quan niệm của Mác về thiên chức lịch sử vẻ vang củagiai cấp công nhân trước kia là đúng nhưng sang nền ” kinh tế tri thức ” không còn tương thích. Do đó thiên chức lịch sử vẻ vang của giai cấp công nhânchuyển sang cho những tầng lớp tri thức. Trí thức có vai trò quan trọng trong mọi thời đại, nhưng trí thứckhông thể chỉ huy được cách mạng, không còn thiên chức lịch sử dân tộc nhưgiai cấp công nhân vì tri thức không khi nào là lực lượng xã hội thuầnnhất, họ không phải là giai cấp. Không liên hệ với bất kỳ hình thức sởhữu nào, cũng không đại diện thay mặt cho bất kể một phương pháp sản xuất nào. Họ không trái chiều về kinh tế tài chính trước bất kể gia cấp – những tầng lớp nào. Trí thứckhông có quyền lợi đối kháng trực tiếp với tư sản, họ không có hệ tư tưởngriêng. Phương thức lao động là cá thể ít link. – Có quan điểm cho rằng : nông dân có thiên chức lịch sử vẻ vang như côngnhân. Không vì : Họ là người lao động nhưng có tính tư hữu, không cóhệ tư tưởng độc lập. Phân tích những điều kiện giai cấp công nhân Nước Ta làm tròn sứmệnh lịch sử vẻ vang của mình so với Cách mạng Nước Ta. * Vài nét khái quát về giai cấp công nhân Nước Ta. – Giai cấp công nhân Nước Ta ra đời muộn hơn giai cấp công nhânquốc tế là loại sản phẩm của công nghiệp chế biến và khai thác. – Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ( 1897 – 1914 ). Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nên Giaicấp công nhân Nước Ta tăng trưởng chậm trễ. Mặc dù số lượng ít ( 1 % dân số trước 1930 ) Giai cấp công nhân nhanh gọn vươn lên lãnh đạocách mạng Nước Ta, được dân tộc bản địa thừa nhận suốt 76 năm chỉ huy cáchmạng Nước Ta. * Đặc điểm cơ bản ( điều kiện thực thi vai trò chỉ huy cách mạng ) : – Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc bản địa cótruyền thống đấu tranh quật cường chống giặc ngoại xâm. – Giai cấp công nhân Nước Ta ra đời và từng bước trưởng thànhtrong không khí sục sôi của một loạt trào lưu yêu nước và những cuộckhởi nghĩa chống thực dân Pháp. – Ra đời, trưởng thành vào lúc trào lưu cộng sản và công nhânquốc tế tăng trưởng mạnh, cách mạng tháng Mười Nga thành công xuất sắc, ảnhhưởng đến trào lưu dân tộc bản địa dân chủ ở những nước khác, trong đó cócách mạng Nước Ta. Chính lúc đó nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc trêncon đường tìm đến với chủ nghĩa Mác Lênin. – Giai cấp công nhân Nước Ta, mà tuyệt đại bộ phận xuất thân từnông dân và những những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiênvới phần đông nhân dân lao động bị áp bức, cũng là điều kiện thuận tiện đểgiai cấp công nhân kiến thiết xây dựng khối liên minh công nông vững chãi vàkhối đại đoàn kết dân tộc bản địa thoáng đãng, bảo vệ cho sự chỉ huy giai cấpcông nhân Nước Ta. Thực tiễn lịch sử dân tộc Nước Ta chỉ rõ : giai cấp công nhân ra đời chưabao lâu, ngay cả khi chưa có Đảng ra đời đã tổ chức triển khai nhiều cuộc đấutranh tự phát chống thực dân Pháp, đó là trào lưu từ 1922 đến 1929. Khi Đảng cộng sản Nước Ta ra đời, chỉ huy. Vai trò của Giai cấp côngnhân Nước Ta đã bộc lộ trên thực tiễn : lãnh đạo nhân dân Nước Ta đạtđược những thành tựu to lớn trong thế kỷ XX. * Sứ mệnh lịch sử vẻ vang của giai cấp công nhân Việt NamTrước hết phải chỉ huy cuộc cách mạng đó trải qua đội tiênphong của mình giành chính quyền sở tại, thiết lập nền chuyên chính nhândân. Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa : giai cấp công nhântừng bước lãnh đạo nhân dân kiến thiết xây dựng, giải phóng nhân dân lao độngkhỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công. Giai cấp công nhân Nước Ta chỉ huy cách mạng Nước Ta thôngqua Đảng Cộng sản, do vậy : nói đến Giai cấp công nhân chỉ huy là nóiđến hàng loạt giai cấp chứ không phải một nhóm người, từng người. Tuy nhiên để chỉ huy, giai cấp công nhân phải có một lực lượng, tổchức tiêu biểu vượt trội cho quyền hạn giai cấp đó là Đảng Cộng sản. Đảng viêndù xuất thân từ thành phần xã hội nào cũng phải đứng trên lập trườnggiai cấp công nhân. Thể hiện : Phải thực thi lý tưởng của giai cấp côngnhân, lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tưtưởng. Họ đấu tranh vì quyền lợi giai cấp, quyền lợi nhân dân và cả dân tộc bản địa. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ huy cách mạng Nước Ta hoànthành cách mạng dân tộc bản địa dân chủ nhân dân, lúc bấy giờ đang chỉ huy cáchmạng xã hội chủ nghĩa – trách nhiệm khó khăn vất vả và phức tạp. Trong bối cảnhhiện nay giai cấp công nhân Nước Ta phải khắc phục những khuyếtđiểm liên tục tự thay đổi nâng cao năng lượng chỉ huy tổng lực đápứng với yêu càu trách nhiệm mới. Mục tiêu và động lực của Cách mạng xã hội chủ nghĩa. * Mục tiêu của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩaKhi tiến hành Cách mạng tư sản, giai cấp tư sản đã nêu tư tưởng tựdo – bình đẳng – bác ái. Khi Cách mạng thành công xuất sắc, tư tưởng đó khôngđược giai cấp tư sản thực thi không thiếu. Kết quả mà cuộc Cách mạng tưsản đem lại là : tình trang con người ( người lao động bị áp bức, bóc lộtnặng nề hơn ; Phân hóa giai cấp thâm thúy dẫn tới xung đột giai cấp, dân tộcphát triển ; quan hệ gắn bó giữa người với người bị biến dạng. Tôn giáobị tận dụng vì mục tiêu chính trị … Mác – Ăng-ghen đã khắc phục tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khôngtưởng, chứng minh và khẳng định tiềm năng của Cách mạng xã hội chủ nghĩa là : Giảiphóng giai cấp bị áp bức bóc lột, giải phóng những dân tộc bản địa bị nô dịch, giảiphóng xã hội khỏi sự ngưng trệ để liên tục tăng trưởng trên con đường vănminh, tân tiến. Thực chất xã hội chủ nghĩa mà Mác – Ăng-ghen ấp ủ làmột thể liên hiệp trong đó sự tăng trưởng tự do của mỗi người là điều kiệntự do của toàn bộ mọi người. Mục tiêu đó được chia làm 2 tiến trình : Giai đoạn thứ nhất : giải phóng giai cấp khỏi áp bức bóc lột, giànhchính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Giai đoạn thứ hai : Mục tiêu là xóa bỏ chính sách người bóc lột người, tăng trưởng sản xuất nhằm mục đích đưa lại đời sống ấm no cho toàn dân. * Động lực của Cách mạng xã hội chủ nghĩaCách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích giải phóng người lao động và dochính nhân dân lao động triển khai, nhưng tùy thuộc vào điều kiện kinhtế – xã hội lao lý mà vị trí của họ có khác nhau. Giai cấp công nhân : Là động lực và là lực lượng chỉ huy Cáchmạng do giai cấp này : đại biểu cho phương pháp sản xuất mới, có hệ tưtưởng độc lập là chủ nghĩa Mác – Lênin, đại biểu cho quyền lợi người laođộng. Thực chất cách mạng xã hội chủ nghĩa là tổ chức triển khai một xã hội mớicủa những người lao động dưới sự chỉ huy của giai cấp công nhânthông qua chính Đảng – Đội tiên phong của giai cấp. Giai cấp nông dân : Sự tham gia của giai cấp nông dân vào tiếntrình Cách mạng có ý nghĩa quan trọng so với việc triển khai hóa vai tròlãnh đạo của giai cấp công nhân. Do : Trong Cách mạng xã hội chủ nghĩanông dân được phân phối nhu yếu, nguyện vọng giải phóng. Xã hội mớiđược kiến thiết xây dựng tương thích với quyền lợi của nhân dân, họ được cải tổ đờisống vật chất ý thức. Mặt khác họ được ảnh hưởng tác động tích cực từ tưtưởng và hành vi cách mạng của giai cấp công nhân nên họ càng tinvà theo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tầng lớp tri thức : Tầng lớp này không là lực lượng chỉ huy cáchmạng, nhưng họ đại diện thay mặt cho trí tuệ của quốc gia. Họ có nhiều khả năngtiếp cận thành tựu khoa học tân tiến. Đây là lực lượng không hề thiếuđược của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì : Nếu giành chính quyền sở tại từ taygiai cấp tư sản mà những vị trí chủ chốt đều do người có học ” quản lý và điều hành, dovậy thành công xuất sắc hay thất bại của cách mạng nhờ vào rất lớn vào việcgiai cấp công nhân có lôi cuốn được tri thức theo Cách mạng hay không ? Trong kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xã hội vai trò của đội ngũ tri thức ngày càngcần thiết nhất là trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ tiên tiến. Tóm lại, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tương thích với nhu yếu pháttriển xã hội nên đã phối hợp được mọi lực lượng tạo thành động lực củaCách mạng. Phân tích những đặc thù cơ bản của thời đại ngày này. Thứ nhất, Đấu tranh dân tộc bản địa và đấu tranh giai cấp diễn ra nóng bức. Do những xích míc cơ bản vẫn sống sót và tăng trưởng ( đã nghiên cứu và phân tích ). Đấutranh giai cấp và dân tộc bản địa diễn ra dưới nhiều hình thức mới. Những yếu tố toàn thế giới được đặt ra một cách đơn cử nhưng giảiquyết yếu tố toàn thế giới lại do Nhà nước triển khai, mỗi Nhà nước lại do 1 giai cấp đứng đầu. Giải quyết yếu tố quả đât khi nào cùng theo lăngkính giai cấp. Do đó quốc tế đang bị phân loại theo những quan điểm củacác giai cấp khác nhau. Đấu tranh giai cấp thường gắn với đấu tranh dân tộc bản địa, yếu tố dân tộc bản địa, đoàn kết dân tộc bản địa là yếu tố cơ bản chi phối những lực lượng xã hội. Thứ hai, Cách mạng khoa học công nghệ tiên tiến đang diễn ra như vũ bão, tạo ra nhiều sự đổi khác trong những nghành nghề dịch vụ thâm thúy to lớn trên thế giớiLực lượng sản xuất của quả đât đã tăng trưởng nhanh gọn dưới sựtác động của khoa học công nghệ tiên tiến. Nếu so năm 1990 với 1740 khi nhânloại bước vào Cách mạng công nghiệp thì lực lượng sản xuất đã tăng2000 lần. Cứ 10 – 15 năm của cải quả đât tăng gấp đôi … Cách mạng khoa học công nghệ tiên tiến tạo sự đột biến ở tổng thể những lĩnh vựctừ khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, ngoài hành tinh, công nghệ tiên tiến vật tư … Chỉrõ lực lượng sản xuất mang tính quốc tế cao, Open xu thế toàn cầucũng như sự phụ thuộc vào lẫn nhau giữa những nước. Thứ ba, những yếu tố toàn thế giới yên cầu sự hợp tác xử lý củacác vương quốc. Khoảng cách phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, ngày càng tăng dân số ởcác nước chậm tăng trưởng. Tình trạng khan hiếm tài nguyên, môi trườngsinh thái bị hủy hoại, khí hậu không bình thường, những dịch bệnh lan rộng, tộiphạm quốc tế có khunh hướng ngày càng tăng, yên cầu có sự hợp tác của cácquốc gia không phân biệt chính sách XHCả loài người đang đứng trước những yếu tố có tính toàn thế giới màgiải quyết được nó phải có sự hợp tác giữa toàn bộ những nước không phânbiệt chính sách chính trị, trình độ tăng trưởng … Đó là những yếu tố : Môi trườngsinh thái bị tàn phá nặng nề, bùng nổ dân số, bần hàn, bệnh tật … Yêucầu phải có sự link để xử lý. Thứ tư, khu vực Châu Á Thái Bình Dương – Thái Bình Dương đang tăng trưởng năngđộng với vận tốc cao đồng thời cũng tiềm ẩn những tác nhân gây mất ổnđịnh. Là khu vực chiếm 50% diện tích quy hoạnh toàn thế giới, 75 % dân số quốc tế, 8/10 nước có dân số trên 100 triệu dân … Là khu vực tăng trưởng năng động nhất về kinh tế tài chính. Tuy nhiên tiềm ẩnnhân tố gây mất không thay đổi do kế hoạch thôn tính của những nước lớn, chiếm nhiều nước nghèo, nợ nần lớn, dân số tăng trưởng nhanh, công nghệlạc hậu, quản trị kém … Tóm lại : Thế giới đang xen kẽ nhiều yếu tố phức tạp. Để hội nhậpvà tăng trưởng tất cả chúng ta phải thấy hết những khuynh hướng trên cơ sở đó đề rađường lối chủ trương tương thích. Phân tích những yếu tố có tính nguyên tắc khuynh hướng xã hội chủnghĩa trong thay đổi mạng lưới hệ thống chính trị ở nước ta. Phương hướng cảicách nhà nước ta lúc bấy giờ. ? * Đổi mới mạng lưới hệ thống chính trị ở Nước Ta hiện nayThực chất là thiết kế xây dựng và từng bước triển khai xong nền dân chủ xã hộichủ nghĩa bảo vệ quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị ở Nước Ta lúc bấy giờ gồm có : đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổquốc Nước Ta và những đoàn thể nhân dân. Trong quy trình kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xã hội mạng lưới hệ thống chính trị ở ViệtNam đã tạo nhiều thành tựu quan trọng. Xuất phát từ nhu yếu của sựnghiệp thay đổi, từ những hạn chế của mạng lưới hệ thống chính trị trong điều kiệnhiện nay phải thay đổi mạng lưới hệ thống chính trị ở nước ta. * Trong thay đổi phải bảo vệ nguyên tắc : Một là, Đổi mới mạng lưới hệ thống chính trị là thay đổi nội dung, phươngthức hoạt động giải trí, tổ chức triển khai cán bộ và những mối quan hệ giữa những tổ chứcchính trị hợp pháp. Không biến hóa tiềm năng độc lập dân tộc bản địa gắn liền vớichủ nghĩa xã hội. Hai là, trong quy trình thiết kế xây dựng, hoàn thành xong nền dân chủ xã hội chủnghĩa thì những nguyên tắc, tính năng, trách nhiệm của chuyên chính vôsản vẫn được triển khai ngày càng tốt hơn. Ba là, Đảng, Nhà nước và nhân dân không gật đầu ” đa nguyênchính trị, đa Đảng trái chiều “. Bốn là, Đổi mới tổng lực tuy nhiên có trọng điểm : trên cơ sở không thay đổi, tăng trưởng kinh tế tài chính và đời sống nhân dân từng bước thay đổi hệ thốngchính trị phân phối nhu yếu ngày càng cao của mọi nghành nghề dịch vụ xã hội. * Phương hướng cải cách nhà nước ta hiện nayXuất phát từ vị trí vai trò của nhà nước : là trụ cột, công cụ chủ yếuvững mạnh để thực thi quyền lực tối cao của nhân dân. Đại hội Đảng lần thứIX chỉ rõ phương hướng chung là thiết kế xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, dưới sự chỉ huy của Đảng cộng sản Nước Ta. Cải cách Nhà nước tập trung chuyên sâu vào những yếu tố : + Với Quốc hội : – Cơ quan quyền lực tối cao cao nhất của nước ta. Khẳng định quyền lựcnhà nước là thống nhất đó là quyền lực tối cao của nhân dân. – Quốc hội cần chăm sóc đến việc lập pháp, lập quy. Cụ thể xâydựng chương trình lập pháp, quyền trình dự án Bất Động Sản luật của những đoàn thểnhân dân. Nâng cao kiến thức và kỹ năng lập pháp của đại biểu QH, nâng caotrình độ thẩm định luật. Tôn trọng quan điểm của những nhà khoa học, của nhândân, của những chuyên viên. + Với nhà nước và mạng lưới hệ thống cơ quan hành pháp … tập trung chuyên sâu vào 3 yếu tố : – Thứ nhất, cải cách hệ thể chế hành chính : Đó là cải cách thủ tụchành chính, triển khai xong thể chế để bảo vệ quản trị bằng pháp lý, giảmcơ chế xin – cho. – Thứ hai, cải cách cỗ máy : kiểm soát và chấn chỉnh cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai, cỗ máy, tinh giảm biên chế. Định rõ thứ bậc, quan hệ thứ bậc trong quan hệ hànhchính. Xác định vai trò, vị trí từng cấp chính quyền sở tại. – Thứ ba, cải cách công tác làm việc cán bộ công chức : Ban hành quy định vềchế độ công vụ, công chức. Quy định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ, thẩm quyềnvà tổng luật hành chính. Quy định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ, thẩm quyền vàkỷ luật hành chính. Quy định rõ chính sách giảng dạy, tuyển dụng và sàng lọccông chức, thiết kế xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lượng. Làm tốt những việc làm trên sẽ không ngừng nâng cao ý thức dânchủ, ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, làm cho mọi người trong xã hội, mọitổ chức trong xã hội phát huy dân chủ ở mức độ cao nhất, chống lại cáchiện tượng vi phạm dân chủ. Phân tích nội dung cương lĩnh dân tộc bản địa của chủ nghĩa Mác – LêninLênin viết tác phẩm về ” quyền dân tộc bản địa tự quyết “. Tác nhân được coilà cương lĩnh dân tộc bản địa của Đảng cộng sản gồm 3 yếu tố. * Các dân tộc bản địa trọn vẹn bình đẳngVị trí : Đây là quyền thiêng liêng của mọi dân tộc bản địa. Nó cũng là mộttrong những nội dung phấn đấu của Đảng cộng sản, của giai cấp côngnhân. Để thực thi được tiềm năng này phải gắn liền với cuộc đấu tranhgiai cấp để thủ tiêu bốc lột, áp bức giai cấp. Nội dung : Các dân tộc bản địa có quyền lợi và nghĩa vụ và nghĩa vụ và trách nhiệm ngang nhau trên tấtcả những nghành, chỉ rõ những dân tộc bản địa bình đẳng bất kể dân tộc bản địa có số lượngnhiều hay ít, trình độ tăng trưởng cao hay thấp, đất đai rộng hay hẹp, cácdân tộc bình đẳng trên toàn bộ những nghành kinh tế tài chính, chính trị, văn hóa truyền thống, xãhội. Khắc phục thực trạng chênh lệch trong sự tăng trưởng giữa những dântộc. Quyền bình đẳng giữa những dân tộc bản địa được triển khai trên khoanh vùng phạm vi cảnước và quốc tế. Đây là cơ sở để hực hiện những nội dung khác vì những dântộc có quyền bình đẳng mới có quyền quyết định hành động vận mệnh của mình vàhợp tác quốc tế. * Các dân tộc bản địa có quyền tự quyếtVị trí : Đây là quyền bất khả xâm phạm của những dân tộc bản địa vì : quyền tựquyết trước hết là tự quyết về chính trị, giành độc lập và chính trị khônglệ thuộc vào vương quốc dân tộc bản địa khác. Với những nước dân tộc bản địa thuộc địa đó làgiải phóng khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dântộc, đưa quốc gia đi theo con đường tân tiến. Quyền tự quyết còn làquyền tự nguyện tham gia liên hiệp dân tộc bản địa. Thực chất : Quyền tự quyết của những dân tộc bản địa là quyền làm chủ củadân tộc so với quốc gia mình, không một dân tộc bản địa nào có quyền canthiệp. Ý nghĩa : Nội dung trên thức tỉnh những dân tộc bản địa thuộc địa và phụ thuộcđấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập đưa quốc gia pháttriển theo quy luật khách quan của lịch sử vẻ vang. * Liên hiệp công nhân toàn bộ những dân tộcVị trí : Đây là nội dung cơ bản xuyên thấu, mang tính nguyên tắctrong cương lĩnh của Lênin vì : nó phản ánh sự thống nhất giữa phongtrào giải phóng dân tộc bản địa với trào lưu công nhân. Nó bảo vệ chophong trào giải phóng dân tộc bản địa có đủ sức mạnh để đấu tranh giành thắnglợi. Nội dung cơ bản là sự phối hợp ngặt nghèo trào lưu yêu nước chânchính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Giai cấp công nhân phải giải quyếtphù hợp quyền lợi dân tộc bản địa. Khi xử lý yếu tố dân tộc bản địa phải đứng trên lậptrường của giai cấp công nhân. Nội dung trên tương thích với thời đại, trởthành sức mạnh của thời đại. Ngày nay giai cấp công nhân ở mỗi quốcgia dân tộc bản địa phải đoàn kết với nhân dân quốc tế đấu tranh vì tiềm năng củathời đại. Đây là tiềm năng phấn đấu là giải pháp hữu hiệu để những Đảng Cộngsản tổ chức triển khai lực lượng trong đấu tranh để giải phóng giai cấp, giải phóngdân tộc, xử lý đúng đắn quyền bình đẳng và quyền tự quyết của cácdân tộc. Tóm lại : Cương lĩnh dân tộc bản địa của Đảng Cộng sản là một bộ phậncủa cương lĩnh Cách mạng của giai cấp công nhân là cơ sở lý luận củađường lối chủ trương dân tộc bản địa của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hộichủ nghĩaPhân tích chủ trương dân tộc bản địa của Đảng và Nhà nước ta lúc bấy giờ. Khái niệm dân tộc bản địa : Dân tộc là loại sản phẩm của quy trình tăng trưởng lâudài của lịch sử vẻ vang. Khái niệm dân tộc bản địa được hiểu theo hai nghĩa. – Nghĩa thứ nhất, dân tộc bản địa chỉ hội đồng người có liên hệ chặt chẽvà bền vững và kiên cố, có chung hoạt động và sinh hoạt kinh tế tài chính, có ngôn từ riêng, văn hóa truyền thống cónhững đặc trưng, – Nghĩa thứ hai, dân tộc bản địa là một hội đồng người không thay đổi, làmthành nhân dân của một nước, có chủ quyền lãnh thổ vương quốc, nền kinh tế tài chính thốngnhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhấtCăn cứ lý luận và thực tiễn xử lý yếu tố dân tộc bản địa ở Nước Ta vềlý luận : Đảng và quản trị Hồ Chí Minh địa thế căn cứ vào cương lĩnh dân tộccủa Lênin, vào thực tiễn đấu tranh Cách mạng đã đề ra và xử lý vấnđề dân tộc bản địa ở những quy trình tiến độ Cách mạng. Cương lĩnh chính trị tháng 10/1930 xác lập yếu tố dân tộc bản địa là mộtbộ phận của Cách mạng Nước Ta ( Cách mạng vô sản ), độc lập dân tộcgắn liền với chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn 1930 – 1945 liên tục giương caokhẩu hiệu đoàn kết dân tộc bản địa thoáng rộng để giành thắng lợi cho Cách mạng. Trong chống Mỹ ( 1954 – 1975 ) đoàn kết dân tộc bản địa để thực thi 2 nhiệmvụ kế hoạch. Hồ Chí Minh có tư tưởng về yếu tố dân tộc bản địa rất độc lạ. Ngườikhẳng định : nước Nước Ta là một, dân tộc bản địa Nước Ta là một đồng bàocác dân tộc bản địa đều là bạn bè một nhà. Đoàn kết dân tộc bản địa là cốt lõi của chủnghĩa yêu nước ; độc lập dân tộc bản địa gắn liền với chủ nghĩa xã hội ; đoàn kếtnhân dân, dân tộc bản địa Nước Ta với nhân dân và những dân tộc bản địa khác trên thếgiới. Trong thiết kế xây dựng chủ nghĩa xã hội những đại hội IV, V, VI, VII, VIIIđều khẳng định chắc chắn vai trò của đoàn kết dân tộc bản địa, chủ trương dân tộc bản địa. Về thực tiễn : Đảng ta dựa vào việc tổng kết kinh nghiệm tay nghề của việcthực hiện chủ trương dân tộc bản địa. Đại hội IV của Đảng chỉ rõ : yếu tố dân tộc bản địa và đoàn kết những dân tộcluôn có vị trí kế hoạch trong sự nghiệp Cách mạng chỉ rõ chính sáchdân tộc của Đảng và Nhà nước ta lúc bấy giờ tập trung chuyên sâu vào những nhiệmvụ đơn cử sau : – Xây dựng kiến trúc kinh tế tài chính – xã hội, tăng trưởng kinh tế tài chính hànghóa, chăm sóc đời sống vật chất, ý thức cho nhân dân những dân tộc bản địa, thựchiện xóa đói, giảm nghèo. – Giữ gìn, làm giàu và phát huy truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc bản địa và truyềnthống tốt đẹp của những dân tộc bản địa. – Tôn trọng quyền lợi, truyền thống cuội nguồn văn hóa truyền thống, ngôn từ, tập quán tínngưỡng của những dân tộc bản địa – Thực hiện công minh giữa những dân tộc bản địa, giữa miền núi và miềnxuôi, đặc biệt quan trọng chăm sóc tới những vùng khó khăn vất vả, vùng trước đây là căn cứkháng chiến. – Tăng cường tu dưỡng đào tạo và giảng dạy đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. – Tiếp tục thực thi truyền thống cuội nguồn đoàn kết giữa những dân tộc bản địa. Độngviên vai trò của những người tiêu biểu vượt trội có uy tín trong dân tộc bản địa và địaphương. Chống tư tưởng dân tộc bản địa lớn, dân tộc bản địa hẹp hòi cực đoan, khắcphục tư tưởng tự ty, mặc cảm dân tộc bản địa. – Thực hiện bảo vệ về mặt pháp lý quyền bình đẳng giữa cácdân tộc về ngôn ngữRõ ràng chủ trương dân tộc bản địa của Đảng và Nhà nước ta mang tínhtoàn diện, tổng hợp tác động tới tổng thể những mặt của đời sống xã hội, tácđộng tới tổng thể những dân tộc bản địa nhằm mục đích đạt tiềm năng độc lập dân tộc bản địa gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân nào dẫn đến tôn giáo còn sống sót trong quy trình xâydựng chủ nghĩa xã hội. Dưới xã hội xã hội chủ nghĩa tôn giáo vẫn sống sót vì những nguyênnhân sau : – Nguyên nhân nhận thức : Dưới chủ nghĩa xã hội trình độ nhận thức của nhân dân chưa cao, nhiều hiện tượng kỳ lạ tự nhiên xã hội khoa học chưa lý giải nổi. Do đó khihoạn nạn xảy ra những người vốn có tín ngưỡng tôn giáo bèn cầu xin sựche chở của lực lượng siêu nhiên nên tôn giáo có cơ sở sống sót. – Nguyên nhân tâm ý : Tôn giáo sống sót truyền kiếp trong lịch sử dân tộc, ăn sâu vào tiềm thức của nhiềungười dân, nó trở thành một kiểu sinh hoạt tinh thần không hề thiếu đượctrong đời sống. Nó là một hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất. – Nguyên nhân văn hóa : Đa số tôn giáo gắn với hoạt động và sinh hoạt văn hóa truyền thống của nhân dân, do đó việcbảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa truyền thống dân tộc bản địa phải đi liền với bảo tồn cácgiá trị văn hóa truyền thống ở mức độ nhất định. – Nguyên nhân chính trị xã hội : Trong giáo lý và nguyên tắc tôn giáo có nhiều điểm tương thích với chủnghĩa xã hội, với đường lối, chủ trương của nhà nước xã hội chủ nghĩa dođó tôn giáo được khuyến khích phát huy giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống. Đó là cơsở để nó sống sót. Mặt khác, những thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội lợidung tôn giáo để chống phá cách mạng. Tôn giáo trở thành công cụ, phương tiện đi lại, lực lượng để chống phá chủ nghĩa xã hội. – Nguyên nhân về kinh tế tài chính : Trong chủ nghĩa xã hội, nhất là tiến trình đầu vẫn còn sở hữu riênglại thực thi cơ chế thị trường trong kinh tế tài chính nên Open sự cạnh tranhkhốc liệt dẫn tới sự thành công xuất sắc trong sản xuất kinh doanh thương mại của nhiều ngườinhưng cũng không ít người làm ăn thua lỗ. Cả hai lớp người này đều xuấthiện tâm ý thụ động, cầu mong vào lực lượng siêu nhiên, họ đến với tôngiáo. Mặt khác đời sống kinh tế tài chính của nhân dân chưa cao nên họ lựa chọngiải pháp đến với tôn giáo. * Ngoài những nguyên do trên, để sống sót tôn giáo còn có những xu hướngcách tân sau : Xu hướng thứ nhất : tính hội đồng giảm dần. Giáo dân cho rằngcon người có năng lực trực tiếp quan hệ với chúa, nên không cần thiếtphải tập trung chuyên sâu ở nhà thời thánh … Xu hướng thứ hai : Thế tục hóa : đặc thù hoang đường giảm đi tôngiáo có sự cải biên cho tương thích với thời đại. Tôn giáo cũng chăm sóc đếncác yếu tố toàn thế giới như đói nghèo, bệnh tật, giáo dục. Xu hướng dựng nên ngọn cờ tôn giáo mới : Cho rằng chỉ có tôngiáo mới đem lại quyền lợi cho nhân dân quốc tế còn những lực lượng xã hộikhác thì không. Thực chất đó là sự tranh giành ảnh hưởng tác động, bài xích hạ uytín của nhau. Kết luận : Tôn giáo còn sống sót trong quy trình kiến thiết xây dựng chủ nghĩa xãhội .

VIETLIKE.VN

CEO: Công ty TNHH Công Nghệ Truyền Thông Ez Media.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button